Thứ sáu, 11/09/2026, 01:20

Mối quan hệ đặc biệt giữa Bác Hồ và cụ Hồ Tùng Mậu

(hoinhabaonghean.vn) - Nhân kỷ niệm 130 năm Ngày sinh đồng chí Hồ Tùng Mậu (15/6/1896 - 15/6/2026), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương và Tỉnh ủy Nghệ An trang trọng tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Đồng chí Hồ Tùng Mậu - Nhà lãnh đạo kiên trung, tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam”. Tạp chí Người làm báo Nghệ An xin giới thiệu bài viết về mối quan hệ đặc biệt của Bác Hồ và Cụ Hồ Tùng Mậu – người được chính Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định“ Mật thiết hơn anh em ruột thịt”.
   
          Cụ Hồ Tùng Mậu tên thật là Hồ Bá Cự, quê làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu (nay là xã Quỳnh Anh, tỉnh Nghệ An), là cháu đích tôn của Án sát Hồ Bá Ôn (1843-1883). Thân phụ của Hồ Tùng Mậu là ông Hồ Bá Kiện, con trai trưởng của Án sát Hồ Bá Ôn, hoạt động tích cực trong phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu. Năm 1907, Hồ Bá Kiện đang đi vận động phong trào Đông Du ở tỉnh Sơn Tây thì bị lính Pháp bắt, chúng giải ông về giam và tra tấn tại nhà lao Vinh, nhà tù Lao Bảo.

Bác Hồ với Cụ Hồ Tùng Mậu
Dịp Tết năm Canh Thân (1920), trước lúc lên đường đi xuất dương, Hồ Bá Cự được lãnh đạo Hội Duy Tân bố trí cho anh về quê thăm vợ là Nguyễn Thị Thảo, đã sinh cho anh đứa con trai được 4 ngày, đang chờ Hồ Bá Cự về đặt tên và chào tạm biệt gia đình. Bế con trai trên tay, Hồ Bá Cự rất xúc động, anh đặt tên cho con là Hồ Bá Bối (mong con lớn lên sẽ tiếp tục nối chí ông cha). Về thăm nhà, ngồi chưa ấm chỗ đã nghe tiếng gà gáy báo hiệu canh ba, Hồ Bá Cự bịn rịn trao con trai cho bà Nội,  tạm biệt vợ hiền, cùng các ông, bà, lặng lẽ lách cửa nhà bếp, rời đi khỏi làng Quỳnh Đôi. Địa điểm tập trung đoàn đi xuất dương là Nhà Thờ chi Cụ Tú Lang, ở làng Phù Xá, phủ Hưng Nguyên.

 Trước khi lên đường đi xuất dương, để giữ bí mật và tránh liên lụy đến gia đình, những người đi xuất dương đều đổi họ, thay tên. Hồ Bá Cự đổi tên là Hồ Tùng Mậu. Đoàn xuất dương có 10 người, vượt dãy núi Trường Sơn, qua nước Triệu Voi rồi sang đất Xiêm, nơi cụ Đặng Thúc Hứa đã lập Trại Cày cho các đoàn xuất dương từ trong nước sang ở, có nơi học tập và rèn luyện võ nghệ. Sau mấy tháng học tập và rèn luyện trên đất Xiêm, Cụ Đặng Thúc Hứa chọn những thanh niên xuất sắc như: Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lưu Quốc Long ... gửi sang Quảng Châu - Trung Quốc, nơi có cụ Phan Bội Châu và Hồ Học Lãm đang hoạt động.

Năm 1923, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn và nhóm Thanh niên tích cực hoạt động ở Quảng Châu Trung Quốc đã thành lập tổ chức “Tâm Tâm Xã”. Đầu năm 1924, cụ Phan Bội Châu cử Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn về Nghệ Tĩnh để nhận tiền quyên góp và đưa thêm thanh niên ra nước ngoài hoạt động. Về Nghệ An, được sự giúp đỡ của tổ chức, Hồ Tùng Mậu và các cụ Hoàng Trần Siêu, Hoàng Trần Đài lên phủ Anh Sơn, Đô Lương và Thanh Chương tuyển thêm lớp thanh niên đi sau, đó là Trương Vân Lĩnh, Trương Học Ba, Trần Tố Chấn, Nguyễn Văn Luyện.

Sau sự kiện tiếng bom Sa Diện (19/6/1924), được sự đồng ý của BCH Quốc tế Cộng sản, ngày 11/11/1924, Nguyễn Ái Quốc rời nước Nga Xô viết, đến Trung Quốc hoạt động với tên bí danh là Vương. Được sự giúp đỡ và giới thiệu của hai cụ Phan Bội Châu và Hồ Học Lãm, tháng 2/1925, Nguyễn Ái Quốc chọn những thanh niên tiêu biểu trong tổ chức Tâm Tâm Xã gồm: Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Trương Vân Lĩnh, Lê Hồng Phong, Lưu Quốc Long, Lê Thiết Hùng, Lê Duy Điếm (có 9 người), thành lập nhóm “Thanh niên Cộng sản Đoàn”.

 Tháng 6/1925, dựa vào nhóm “Cộng sản Đoàn”, Nguyễn Ái Quốc thành lập“Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí”. Để tuyên truyền ảnh hưởng và mục đích tôn chỉ hoạt động của “Hội Thanh niên cách mạng”, ngày 21/6/1925, Nguyễn Ái Quốc cho xuất bản tờ “Báo Thanh niên”. Các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn,Trương Vân Lĩnh đều là những trợ thủ giúp việc đắc lực cho Người. Được sự đồng ý của Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản, ngày 3/2/1930, tại bán đảo Cửu Long, Hương Cảng, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị, hợp nhất ba tổ chức Đảng cách mạng, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuộc họp có 7 đồng chí tham dự, Nguyễn Ái Quốc đại diện cho Quốc tế Cộng sản. Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn đại diện cho Đảng hoạt động ở hải ngoại.
 
Toàn cảnh hội thảo khoa học “Đồng chí Hồ Tùng Mậu Nhà lãnh đạo kiên trung, tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam” Ảnh Phạm Bằng
Toàn cảnh hội thảo khoa học “Đồng chí Hồ Tùng Mậu - Nhà lãnh đạo kiên trung, tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam”. Ảnh Phạm Bằng

Sau khi Đảng Cộng sản ra đời, đã trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh trong cả nước mà đỉnh cao nhất là phong trào cách mạng ở hai tỉnh Nghệ Tĩnh. Thời kỳ cao trào của cách mạng, nhiều địa phương ở các làng, xã đã lập ra Chính quyền các xã Bộ Nông (gọi là Xô viết Nghệ Tĩnh). Đây là chính quyền cách mạng đầu tiên ở vùng Đông Nam Châu Á. Hoảng sợ trước“ Cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh”, bọn thực dân, phong kiến lo sợ ngọn lửa cách mạng từ Nghệ Tĩnh sẽ như vết dầu loang, lan tràn ra các tỉnh khác, cuối năm 1930, đầu 1931, thực dân Pháp huy động lực lượng binh lính đàn áp phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh trong máu và lửa.

Ngày 26/6/1931, Hồ Tùng Mậu đang trên đường đến Thượng Hải để gặp đồng chí Nguyễn Lương Bằng thì bị thực dân Anh mật báo cho thực dân Pháp, chúng bố trí đón lõng bắt và trục xuất ông phải rời đất Hương Cảng. Bọn lính Pháp giải Hồ Tùng Mậu về Việt Nam giam cầm và tra tấn tại các nhà tù Hỏa Lò, nhà lao Vinh. Ngày 6/12/1931, Tòa án phong kiến Nam triều Nghệ An mở phiên tòa xét xử và tuyên án tử hình Hồ Tùng Mậu lần thứ hai.
Năm 1931, nhà lao Vinh chật ních tù nhân, các chiến sĩ bị bắt ở nước ngoài và ở các huyện đều giải về nhà lao Vinh tuyên án. Đằng đẵng hơn 14 năm, Hồ Tùng Mậu bị giam cầm trong các nhà tù đế quốc: Hỏa Lò, Nhà lao Vinh, Ngục Kon Tum - Buôn Ma Thuột và Trà Khê… Bất cứ ở đâu, trong hoàn cảnh nào, Hồ Tùng Mậu vẫn luôn tỏa sáng chất thép của người Cộng sản chân chính. Niềm tin chiến thắng và ý chí kiên cường của Hồ Tùng Mậu, luôn“biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng” đã giúp anh em tù chính trị thêm tin tưởng, đoàn kết đấu tranh chống lại mọi tội ác man rợ của bọn chủ ngục.

Là những trí thức Xứ Nghệ yêu văn thơ, thích tuyên truyền, trong các nhà tù đế quốc, Hồ Tùng Mậu và các chiến sĩ đã làm “báo miệng”, sáng tác nhiều bài thơ để tuyên truyền, giúp nhau giữ vững ý chí chiến đấu. Các bài thơ “Giọt máu hồng” và “Ngục Kon Tum” là những tác phẩm nổi tiếng của Hồ Tùng Mậu và các chiến sĩ cách mạng người Nghệ An được Bác Hồ đào tạo.

Năm 1941, sau khi thành lập Mặt trận Việt Minh, Bác Hồ sang Trung Quốc để lo công việc cách mạng trong giai đoạn lịch sử mới. Người bị bọn quốc dân đảng bắt và đày ải đi nhiều nhà tù ở các tỉnh Trung Quốc. Chỉ 4 tháng trong tù, Bác Hồ để lại cho nhân dân Việt Nam và muôn đời con cháu mai sau một “Di sản đặc biệt”. Đó là cuốn sách viết bằng thơ “ Nhật ký trong tù”. Mùa Xuân năm 1941, khi bắt gặp thời cơ, vận mệnh cách mạng Việt Nam đã sáng dần, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên và nhiều đồng chí khác rời Trung Quốc trở về Cao Bằng, thành lập Mặt trận Việt Minh.
 
Các đại biểu tham quan trưng bày chuyên đề về thân thế, sự nghiệp, cuộc đời hoạt động cách mạng, những cống hiến to lớn của đồng chí Hồ Tùng Mậu
Các đại biểu tham quan trưng bày chuyên đề về thân thế, sự nghiệp, cuộc đời hoạt động cách mạng, những cống hiến to lớn của đồng chí Hồ Tùng Mậu.

Tháng 3/1945, trong các nhà tù đế quốc, Hồ Tùng Mậu và các chiến sĩ cộng sản chớp ngay cơ hội khi có khẩu hiệu đấu tranh của Mặt trận Việt Minh: “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tranh thủ thời cơ ngàn năm có một, ngày 9/3/1945 bọn phát xít Nhật tước vũ khí của thực dân Pháp, Hồ Tùng Mậu và hàng ngàn chiến sĩ cách mạng bị giam cầm trong các nhà tù đế quốc đã đoàn kết đấu tranh, phá nhà ngục, trở về với Đảng, tham gia trong Ban lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, phát động nhân dân đấu tranh giành Chính quyền.

Hơn 14 năm bị giam cầm trong các nhà tù đế quốc, sau 25 năm xa cách quê hương, Hồ Tùng Mậu trở về, người con trai là Hồ Bá Bối (tức Hồ Mỹ Xuyên), hai cha con đều tham gia trong Ban lãnh đạo Mặt trậnViệt Minh huyện Quỳnh Lưu. Sau khi nước nhà giành được độc lập (2/9/1945), Hồ Mỹ Xuyên được Tỉnh ủy Nghệ An điều từ huyện ủy lên Tỉnh ủy làm việc, được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, phụ trách công tác Tuyên truyền. Năm 1946, Hồ Mỹ Xuyên được phân công làm Trưởng ban chỉ đạo“Tiêu thổ kháng chiến” của Liên khu 4. Năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng điều động Hồ Mỹ Xuyên ra Việt Bắc, phụ trách công tác Kiểm tra Đảng. Ngày 20/11/1947, Hồ Mỹ Xuyên được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng cử làm Đặc ủy viên các tỉnh Liên khu 10, đồng chí đổi tên từ Hồ Mỹ Xuyên sang tên Hồ Kim Xuyên.
Ngày 14/3/1948, Hồ Kim Xuyên đang trên đường đi công tác kiểm tra các tỉnh Yên Bái- Lào Cai thì  gặp nạn. Tối 19/3/1948, Hồ Kim Xuyên đã trút hơi thở cuối cùng trên tay anh em và đồng chí tại huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái, khi mới 28 mùa Xuân. Nghe tin Hồ Kim Xuyên hy sinh, Bác Hồ vô cùng đau xót, Người đã tự tay đánh máy bức thư, gửi cho gia đình bà Nguyễn Thị Thảo và Hồ Tùng Mậu để chia buồn và  động viên: “…Cháu Xuyên mất đi, chú mất một người con, tôi mất một người cháu, nhân dân mất một chiến sĩ, đoàn thể mất một cán bộ….. Chú cần giữ gìn sức khỏe, vì việc kháng chiến còn nhiều...”.

         Tháng 12/1949, đồng chí Hồ Tùng Mậu đang giữ chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Liên khu 4 thì Chủ tịch Hồ Chí Minh điều ra Trung ương để nhận nhiệm vụ mới: “Làm Tổng Thanh tra Chính phủ”. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951), đồng chí Hồ Tùng Mậu được bầu vào BCH Trung ương Đảng dự khuyết, kiêm Hội trưởng Hội hữu nghị Việt - Hoa đầu tiên. Ngày 21/7/1951, trên đường đi công tác vào Liên khu 4, khi đi đến thị trấn Còng, tỉnh Thanh Hóa thì bị địch phát hiện đuổi bắn, Hồ Tùng Mậu bị thương nặng. Ngày 23/7/1951, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã hy sinh, kết thúc 31 năm hoạt động với hơn 14 năm tù đày trên con đường cách mạng đầy chông gai thử thách, ở tuổi đời mới 55, năng lực và kinh nghiệm hoạt động cách mạng đang tràn đầy nhiệt huyết.  

Biết tin đồng chí Hồ Tùng Mậu hy sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đau buồn. Ngày 1/8/1951, Người đã tự tay viết bài điếu với những lời vô cùng thống thiết:“Chú Tùng Mậu ơi ! Lòng ta rất đau xót, linh hồn chú biết chăng?  Về tình nghĩa riêng: Tôi với chú là đồng chí, lại là thân thiết hơn anh em ruột. Khi hoạt động ở đất khách quê người, khi bị giam ở lao tù đế quốc, khi đấu tranh ở nước nhà , hơn 25 năm, đã bao phen chúng ta đồng cam cộng khổ, như tay với chân… Mất chú, đồng bào mất một người lãnh đạo tận tụy. Chính phủ mất một người cán bộ lão luyện, đoàn thể mất một người đồng chí trung thành, và tôi mất một người anh em anh em chí thiết. Mấy nguồn thương tiếc, cộng vào trong một lòng tôi! Tôi gạt nước mắt, thay mặt Chính phủ, nghiêng mình trước linh hồn chú, và truy tặng chú Huân chương Hồ Chí Minh, để nêu công lao chú đối với đồng bào, đối với Tổ quốc….”. Ngày 18/1/2008, đồng chí Hồ Tùng Mậu được truy tặng Huân Chương Sao Vàng. Ngày 18/2/2014, Bộ Chính trị ký quyết định công nhận đồng chí Hồ Tùng Mậu là lãnh đạo cách mạng tiền bối tiêu biểu của Đảng. Gia đình Hồ Tùng Mậu là một gia đình:“ Đời nối đời vì nước” có một không hai.

Tên các liệt sĩ trong gia đình Hồ Tùng Mậu nối tiếp từ Ông, Cha, Con, Cháu: Hồ Bá Ôn, Hồ Bá Kiện, Hồ Bá Trị, Trần Thị Trâm, Hồ Học Lãm, Hồ Tùng Mậu và Hồ Mỹ Xuyên.Tất cả những danh nhân tiêu biểu trên đã đi vào Lịch sử cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam để giành và giữ nền độc lập dân tộc. Những danh nhân trong gia đình Hồ Tùng Mậu đã được đặt tên cho nhiều đường phố và trường học ở Nghệ An và các tỉnh. Bà Nguyễn Thị Thảo, vợ liệt sĩ Hồ Tùng Mậu, Mẹ liệt sĩ Hồ Mỹ Xuyên được phong tặng danh hiệu “Mẹ Việt Nam Anh hùng”.Nhà Thờ, nhà ở và khu Lăng mộ,Tượng đài đồng chí Hồ Tùng Mậu đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là Di tích Lịch sử Văn hóa Quốc gia. Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã vinh danh Hồ Tùng Mậu, Hồ Mỹ Xuyên là những chiến sĩ Cộng sản tiêu biểu lớp tiền bối của Đảng ./.
 
       Trương Quế Phương/Hội Sử học Nghệ An

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây